Bài giảng Chúa Nhật 18 Thường niên – Năm B (2012)
Xin gửi đến quý độc giả Bài giảng Chúa Nhật 18 Thường niên – Năm B của cha Jude Siciliano, OP, do Anh Em Học viện Đaminh Gò Vấp chuyển ngữ.
|
18th SUNDAY (B) August 5, 2012 Ephesians 4: 17, 20-24; John 6: 24-35 |
CHÚA NHẬT XVIII TN – B 05-08-2012 Xuất hành 16: 2-4, 12-15; T.vinh 78; |
| This week’s gospel picks up where last week’s left off. Last week we heard about Jesus’ multiplication of the loaves and fish for the large crowd that followed him. John told us they had seen, "the signs he was performing on the sick" (6:2). But did they really see the meaning of those signs? After Jesus fed them he slipped away from the crowd that wanted to make him king. As we just heard in today’s gospel, the excited crowd chased after Jesus and found him on the other side of the lake in Capernaum. Today’s gospel tells of the subsequent dialogue between Jesus and the crowd. | Bài Tin mừng hôm nay là phần tiếp nối câu chuyện Tin mừng tuần trước. Tuần trước chúng ta nghe câu chuyện Đức Giêsu làm cho bánh và cá hóa ra nhiều để nuôi đám đông đi theo Người. Thánh Gioan kể cho chúng ta biết họ đã chứng kiến “những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm” (6,2). Nhưng họ có thực sự thấy được ý nghĩa của những dấu lạ đó không? Sau khi Đức Giêsu cho họ ăn, Người lánh khỏi đám đông đang muốn tôn Người lên làm vua. Như chúng ta vừa nghe trong bài Tin mừng hôm nay, đám đông hiếu kỳ chạy theo Đức Giêsu và tìm thấy Người ở bên kia biển hồ Caphácnaum. Bài Tin mừng hôm nay nói về cuộc hội thoại tiếp theo giữa Đức Giêsu và đám đông. |
| The people begin the dialogue with a rather bland question, "Rabbi, when did you get here?" We don’t know exactly what to say or ask of the Lord, so we say the first thing that comes to our minds. That’s okay, for Jesus responds by focusing the crowd’s attention on what’s really important. Why are they looking for him? They had seen the signs he had performed on the sick – but they missed what those signs were revealing about Jesus. Then they were fed, but didn’t "see" what that sign meant either. | Dân chúng mở đầu cuộc hội thoại với một câu hỏi khá lễ phép: "Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?" Chúng ta không biết chính xác phải nói gì hay hỏi Chúa điều gì, nên chúng ta chỉ biết thốt ra ý nghĩ đầu tiên nảy ra trong đầu ta. Vậy cũng được, vì Đức Giêsu trả lời bằng cách làm cho đám đông chú ý đến điều gì mới thực sự là quan trọng. Tại sao họ tìm Người? Họ đã chứng kiến những dấu lạ Người làm cho người đau ốm – nhưng họ ko hiểu được rằng những dấu lạ đó nói về Đức Giêsu. Rồi họ được cho ăn, nhưng cũng chẳng “thấy” được ý nghĩa của dấu lạ đó. |
| John doesn’t call Jesus’ great acts "miracles," but "signs." There are external signs, but they can be arbitrary. A man wears a miter, a sign that he is a bishop. He could just as easily wear a blue shirt with an embroidered cross as a sign of his office. We would then say, "I know he’s a bishop because bishops wear blue shirts with a cross on them." | Thánh Gioan không gọi những hành động vĩ đại của Đức Giêsu là “các phép lạ” nhưng gọi là “các dấu lạ”. Có những dấu chỉ bên ngoài, nhưng đó không phải là ngẫu nhiên. Một người đội mũ mitra, là dấu hiệu cho thấy ngài là giám mục. Ngài có thể chỉ cần mặc một áo sơ mi xanh thêu hình thánh giá như dấu hiệu của chức vụ giám mục của mình. Chúng ta có thể nói, “Tôi biết ngài là một giám mục vì giám mục mặc sơ mi xanh có thêu hình thánh giá”. |
| But "sign" for John has more internal meaning: a sign makes present, on a particular occasion, what Jesus’ ministry represents. Did the crowds "see" the meaning of the multiplication of the loaves? – that God, in Christ, was reconciling the world to God’s self. Because, when people in Jesus’ culture ate together, past enmities were put aside. Those who broke bread together were no longer enemies. When the bread was multiplied, people who were strangers and from diverse backgrounds, sat together and ate the same meal, in Jesus’ company. It is what we are doing at this celebration today. Do we see the meaning of this "sign?" | Nhưng “dấu” của đối với Gioan mang nhiều ý nghĩa bên trong hơn: một dấu cho thấy, trong một dịp đặc biệt, sứ vụ của Đức Giêsu bày tỏ điều gì. Dân chúng có “nhận ra” ý nghĩa của việc hóa bánh ra nhiều hay không? – rằng Thiên Chúa, trong Đức Kitô, đang hòa giải thế giới với chính mình. Vì, khi dân chúng trong nền văn hóa của Đức Giêsu cùng ăn với nhau, nghĩa là mọi thù hận được bỏ qua. Những người cùng bẻ bánh chia nhau thì không còn là kẻ thù nữa. Khi bánh được hóa ra nhiều, những người xa lạ, có những hoàn cảnh và địa vị khác nhau, đã cùng ngồi ăn chung với nhau và dùng chung một bữa, trong tình bằng hữu của Đức Giêsu. Đó cũng là điều chúng ta đang thực hiện hôm nay. Chúng ta có thấy ý nghĩa của “dấu chỉ” này không? |
| Our belief in Jesus Christ does not rest on the observable facts of his miracles. We believe that the miracles were possible because of our belief in Jesus as our Savior. The miracles are "signs" of his true nature and identity. We don’t cling to the miracles for our faith, but to Jesus Christ and our direct relationship with him. We "see signs" and believe what they reveal to us about Jesus. | Niềm tin của chúng ta vào Đức Giêsu Kitô không chỉ dừng lại ở chỗ chứng kiến những sự kiện và phép lạ. Chúng ta tin những phép lạ này hoàn toàn có thể xảy ra vì chúng ta tin Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế của mình. Những phép lạ là “những dấu” của bản tính và căn tính đích thực của Người. Niềm tin của chúng ta không dựa vào các phép lạ, nhưng tin vào Đức Giêsu Kitô và tương quan trực tiếp của chúng ta với Người. Chúng ta “chứng kiến dấu lạ” và tin vào những gì các dấu lạ đó mạc khải về Đức Giêsu. |
| The dialogue between the crowd and Jesus develops as one’s faith might. It begins when people see in him God satisfying their hungers (versus 24-34). This opening conversation and the faith development it suggests, will continue over the next several weeks. | Cuộc hội thoại giữa đám đông và Đức Giêsu làm tăng thêm sức mạnh của lòng tin cho người ta. Điều đó bắt đầu khi dân chúng nhận ra Thiên Chúa cho dân đang đói khát được no thỏa trong Người. Điều này mở ra một cuộc đối thoại và sự tăng trưởng đức tin, và sẽ còn tiếp tục trong vài tuần nữa. |
| The crowd searches for and found Jesus and they ask him a question. He ignores their question and challenges their estimation of the miracle of the loaves. He begins the dialogue with, "Amen, amen, I say to you…." It is John’s signal to the reader that something important and solemn is about to be said. It is as if John is telling us, in modern jargon, "Listen up!" | Đám đông đi tìm và đã thấy Đức Giêsu, rồi hỏi Người một câu. Người không quan tâm đến thắc mắc của họ và thách thức sự đánh giá của họ về phép lạ hóa bánh. Người bắt đầu câu chuyện với câu "Thật, tôi bảo thật các ông, …” Chính dấu lạ của Gioan khiến cho độc giả thấy điều gì đó rất quan trọng sắp được nói ra. Như thể chính Gioan đang nói với chúng ta, theo kiểu ngày nay “Nghe này!" |
| Maybe the crowd is on to something. They were fed with physical food by Jesus, but they didn’t understand what was happening. Still, after being filled, they came looking for him. Perhaps they hoped God would feed their deeper hungers for freedom from Roman rule and then establish a new reign – one with God as Ruler. | Có lẽ đám đông đang có vấn đề gì đó. Họ được Đức Giêsu ban cho bánh vật chất để ăn, nhưng họ đã không hiểu điều gì đang xảy ra. Nhưng, sau khi được ăn, họ lại đi tìm Người. Có lẽ họ hy vọng Thiên Chúa có thể làm cho họ thỏa cơn đói khát sự tự do khỏi quyền thống trị của người Rôma và thiết lập một triều đại mới – một vương triều với Thiên Chúa là Thủ Lãnh. |
| The crowd’s motives may not have been the most noble or "spiritual." But Jesus could take them where they were and help them see that in him, God was offering them more than a full stomach. Certainly they were poor Galileans who needed bread for themselves and their families. But even these peasants needed more life than physical food could provide for them. Jesus wanted them to know that the life he had to give them was more nourishing than any food they could provide for themselves. The physical food they ate would perish with their bodies, so they, and us, need a bread that, not only nourishes us physically for a while, but gives eternal life to those who eat it. Jesus identifies himself as that food. He is also hinting at his death and resurrection through which his listeners will receive eternal life. | Động cơ của đám đông có lẽ không cao quý hoặc “linh thiêng”. Nhưng Đức Giêsu có thể bắt đầu từ tình trạng của họ và giúp họ thấy điều đó nơi Người, Thiên Chúa có thể cho họ những thứ còn hơn cả việc chỉ làm đầy cái bao tử. Chắc chắn họ là những người Galilê nghèo khổ cần cái ăn cho mình và gia đình. Nhưng dẫu cho những người nông dân này cần sống hơn là thức ăn vật chất có thể ban cho họ. Đức Giêsu muốn họ biết rằng cuộc sống Người ban cho có thể nuôi dưỡng họ còn hơn cả thức ăn họ kiếm được. Thức ăn vật chất mà họ dùng có thể hủy hoại thân thể họ, vì thế họ, và cả chúng ta, cần một tấm bánh, không chỉ nuôi sống chúng ta một lát, nhưng mang lại sự sống đời đời cho những ai ăn vào. Đức Giêsu tự nhận mình là của ăn. Người cũng có ý nói đến cái chết và sự phục sinh của Người mà qua đó những kẻ nghe Người sẽ nhận được sự sống đời. |
| The audience responds favorably to Jesus when they ask, "What can we do to accomplish the works of God?" It’s not just their question is it? How can we earn this bread of which Jesus is speaking? Here is how we earn the life-giving bread – we don’t! We receive it. "This is the work of God, that you believe in the one he sent." They know Jesus is referring to himself and so they ask for a "sign." They want a manifestation of supernatural power which will give them proof to believe in him. | Thính giả đáp lại Đức Giêsu cách đầy thiện chí khi họ hỏi “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn ?” Đó không phải chỉ là một câu hỏi, đúng không? Làm thế nào chúng ta có được thứ bánh mà Đức Giêsu đang nói đến? Đây là cách để chúng ta có được bánh ban sự sống – chúng ta không kiếm được! Chúng ta nhận được. "Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến." Họ biết Đức Giêsu đang ám chỉ đến chính Người và do đó họ đòi một “dấu”. Họ muốn một sự biểu lộ quyền năng siêu nhiên để cho họ thấy bằng chứng để mà tin vào Người. |
| Our faith in Jesus doesn’t mean we will be guaranteed positive signs of favor in our lives. – that our faith will spare us from catastrophes or sickness. Quite the contrary. After all, his life ended in pain and suffering. When he hung on the cross the chief priests and scribes ridiculed him and asked for a manifestation, a sign, of his powers, "Let the ‘Messiah,’ ‘the King of Israel,’ come down from that cross, here and now, so that we can see it and believe in you" (Mark 15:32)! If Jesus had come down from the cross, or if he performed a spectacular sign to the crowd’s satisfaction, that would have evoked a kind of belief – for a while at least, until life tested them again and then they would need another spectacular sign to assure them. We know faith doesn’t work like that, don’t we? | Niềm tin của chúng ta vào nơi Đức Giêsu không có nghĩa là chúng ta sẽ được bảo đảm một dấu chắc chắn về ân huệ được ban cho chúng ta trong cuộc sống – chẳng hạn như giúp chúng ta sẽ tránh khỏi thảm họa hay bệnh tật. Nhưng kết cục, cuộc đời của Người kết thức trong đau thương và khốn khổ. Khi Người bị treo trên thập giá, các thượng tế cũng như các kinh sư nhạo báng và yêu cầu Người thi triển phép lạ về quyền năng của Người, “Ông Messia, ‘Vua Ítrael’, cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, để chúng ta thấy và tin” (Mc 15,32)! Nếu Đức Giêsu bước xuống khỏi thập giá, hoặc nếu như Người làm một dấu lạ cho đám đông mãn nhãn, có lẽ đã tạo lên một kiểu niềm tin – ít là nào lúc đó, khi cuộc sống lại thử thách họ và họ sẽ lại phải cần đến một dấu cụ thể để đảm bảo. Chúng ta biết rằng niềm tin không phải như thế, đúng không? |
| They want Jesus to be another Moses, who fed the Israelites with bread in the desert. Jesus changes their focus. It wasn’t Moses who gave them bread in the wilderness, but God. Notice that in his response Jesus changes the tense of the verb from the past "gave the bread from heaven," to the present, "my Father gives you the true bread from heaven." | Họ muốn Đức Giêsu là một Môsê khác, người đã nuôi dân |
| Jesus readjusts our focus as well. We are not just remembering a past event – the feeding of the crowds in the desert. What God did for the Israelites and Jesus for the crowds, is still happening for us. The question posed by the gospel then is: do we see the signs that tell us Jesus is again giving himself to us this day? | Đức Giêsu điều chỉnh lại mối quan tâm của chúng ta. Chúng ta không nên chỉ nhớ đến quá khứ - như chuyện nuôi đám đông dân chúng trong sa mạc. Điều Thiên Chúa làm cho dân |
| Jesus, Risen, is feeding us through Word and Sacrament in our liturgical celebration today. Do we know that he is the one we are really looking for and not some other sign of material satisfaction? Our strongest hunger is for an intimacy with God; for God’s life within us – what Jesus calls today, "eternal life." Jesus invites us to come to him in trust, with our whole self, body parts and spirit. | Đức Giêsu, Đấng Phục Sinh, đang nuôi dưỡng chúng ta bằng Lời và Bí tích trong việc cử hành phụng vụ hôm nay. Chúng ta có biết chính Người là Đấng chúng ta đang tìm kiếm và không phải là dấu chỉ của sự thỏa mãn vật chất nào khác? Cơn đói mãnh liệt nhất của chúng ta là sự mật thiết với Thiên Chúa; vì sự sống của Thiên Chúa bên trong chúng ta – thứ mà Đức Giêsu hôm nay gọi là “sự sống đời đời”. Đức Giêsu mời gọi chúng ta tin tưởng nơi Người với tất cả con người, tâm hồn và thân xác của ta. |
|
The food we receive at the Eucharist invites us to trust in God for our "daily bread." Like the Jews in the desert, we are learning to trust that we will have enough bread given us for this day and each day thereafter. Jesus says again to us today, "I am the bread of life, whoever comes to me will never hunger and whoever believes in me will never thirst." Rev. Jude Siciliano, OP |
Lương thực chúng ta nhận được trong Thánh Thể mời gọi chúng ta tin tưởng vào Thiên Chúa để có “lương thực hàng ngày”. Như dân Dothái xưa trong sa mạc, chúng ta học để tin tưởng rằng chúng ta sẽ được ban đủ lương thực cho hôm nay và mai sau. Đức Giêsu lại nói với chúng ta hôm nay “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” Lm. Jude Siciliano, OP |
- Các bài giảng Chúa Nhật XVIII Thường Niên - năm B (2012) (03/08/2012)
- Đừng bỏ lỡ cơ hội (27/07/2012)
- Bài giảng lễ Chúa Nhật 17 Thường Niên – Năm B (2012) (27/07/2012)
- Các bài giảng Chúa Nhật XVII Thường Niên - năm B (2012) (27/07/2012)
- Bài giảng Chúa Nhật 16 Thường niên – Năm B (2012) (20/07/2012)
- Các bài giảng Chúa Nhật XVI Thường Niên - năm B (2012) (20/07/2012)
- Bài giảng Chúa Nhật 15 Thường niên – Năm B (2012) (13/07/2012)
- Các bài giảng Chúa Nhật XV Thường Niên - năm B (2012) (13/07/2012)
- Sống thanh thoát (12/07/2012)
- Các bài giảng Chúa Nhật XIV Thường Niên - năm B (2012) (07/07/2012)
- Đừng tuyệt vọng ... (30/06/2012)
- Các bài giảng Chúa Nhật XIII Thường Niên - năm B (2012) (29/06/2012)
- Bài giảng Chúa Nhật 13 Thường niên – Năm B (2012) (28/06/2012)
- Ngày 29-6 kính hai thánh Phêrô và Phaolô - Khối óc và trái tim (27/06/2012)
- Lễ sinh nhật thánh Gioan Baotixita (24.06) (21/06/2012)

Bản in