Đức tin – Lời nói – Tha tính

Nói đến đức tin, vói đến Kinh Thánh, là nói đến tương quan với Người khác, Đấng Khác, với Thiên Chúa.


Người môn đệ của Đức Giêsu, trong niềm tin của mình (trước tiên người ấy phải là một tín hữu), không được ký thác cho chính mình theo kiểu tự si mê. Người ấy không ở một mình với chính mình, nhưng được đặt trước một tha thể (người khác), chính là vì người ấy được kêu gọi đi vào một mối quan hệ. Và quan hệ chính là một tương quan sâu xa với tha nhân, mà tha nhân vẫn là tha nhân, chứ không trộn lẫn với tôi. Quan hệ không phải là hòa trộn. Trong niềm tin, chúng ta được ký thác cho tha tính của vì Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô: chính Người cứu độ chúng ta bằng cách đến gặp chúng ta với tình yêu của Người. Chúng ta được ký thác cho tha tính của Lời Người, lời đang vang lên trong dân của giao ước cũ và giao ước mới. Chúng ta được ký thác cho tha tính của bản văn viết, là lời Thiên Chúa “được chứng thực và được linh hứng”. Ngay từ đầu nên làm sáng tỏ điều này là Đấng cứu độ chính là Thiên Chúa, chính là Đức Kitô, chính là Chúa Thánh Thần. Nên nhấn mạnh trên sự kiện là ai nói “niềm tin Kitô giáo” là nói đến tha tính, chứ không nói đến tình trạng hòa trộn, theo kiểu một số tôn giáo Đông phương. Nếu không có tha tính, không thể có việc cứu độ chúng ta mà chỉ có việc tự cứu chuộc thôi. Kinh Thánh là một dụng cụ của tha tính, của khách quan tính, của extra-nos (tình trạng ở bên ngoài chúng ta) của việc cứu độ: Kinh Thánh có đó để kêu gọi chúng ta chú ý, vâng phục, phân định; Kinh Thánh có đó để chỉ cho chúng ta những nẻo đường của Thiên Chúa, là những nẻo đường không phải bao giờ cũng trùng với các nẻo đường của chúng ta, với các dự phóng của chúng ta.

 

Franco Ardusso, Comprendi ciò che leggi? Guida alla lettura e alla meditazione del testo biblico, Paoline 1999.

 

Bản dịch kinhthanhvn