Tính đáng tin cậy của Thánh Kinh (tiếp theo và hết)
Khoa Khảo cổ giúp chúng ta nhận định được tính đáng tin cậy của Kinh Thánh.
PHẦN HAI: KHÍA CẠNH KHẢO CỔ HỌC
Điều đầu tiên cần nhấn mạnh là không một khám phá khảo cổ học nào từ trước đến nay đã nói ngược lại một qui chiếu Thánh Kinh (19). Ngược lại, khảo cổ đã xác nhận lịch sử tính chủ yếu của truyền thống Cựu Ước. William F. Albright ghi chú rằng: “Chủ nghĩa hoài nghi thái quá đối với Thánh Kinh của các trường phái lịch sử quan trọng trong các thế kỷ 18 và 19 đã dần dần bị mất uy tín. Hết khám phá này đến khám phá khác đã thiết lập được sự chính xác của không biết bao nhiêu sự kiện, khiến người ta càng ngày càng phải công nhận nhiều hơn giá trị của Thánh Kinh như một nguồn tài liệu lịch sử” (2).
Các học giả ngày nay, nói chung, tỏ ra kính trọng những truyện kể về các tổ phụ hơn các đàn anh của họ trước đây. Điều ấy, theo giáo sư H. H. Rowley, không phải chỉ vì họ có những giả định dè dặt hơn các đàn anh của họ cho bằng vì có nhiều chứng cớ bắt họ phải có thái độ ấy (41). Để minh chứng điều này, ta thấy khoa khảo cổ Cựu Ước đã tìm lại được nhiều quốc gia, làm sống lại nhiều dân tộc quan trọng, và đã lấp đi một cách kỳ diệu nhiều khoảng trống (gap) lịch sử, giúp người ta rất nhiều trong việc hiểu biết các bối cảnh sách thánh (38). Khoa này đã đem lại rất nhiều bằng chứng về sự chính xác của bản Cựu Ước Massoretic. Một trong những bằng chứng ấy là điều khảo cổ đặt tên là Con Dấu Giêrêmia (Jeremiah Seal). Đây là con dấu dùng để đóng lên các thùng rượu nho, được xác nhận có từ thế kỷ thứ nhất hoặc thế kỷ thứ hai công nguyên, trên đó có khắc câu trích trong Giêrêmia 48: 11. Xét tổng quát, câu này phù hợp với bản Massoretic.
Theo William Albright, cho đến gần đây, các nhà nghiên cứu về lịch sử Thánh Kinh vẫn có thói quen coi những chuyện kể về các tổ phụ trong sách Sáng Thế như những sáng tác giả tạo của các thầy ký lục Do-thái thời quân chủ phân hóa hay như những câu chuyện vui kể quanh lửa trại vào thời người Do-thái mới chiếm được mảnh đất Canaan... Tuy nhiên, các khám phá khảo cổ từ năm 1925 đã thay đổi cái nhìn ấy. Vì những khám phá này cho thấy tổ tiên người Do-thái quả có liên hệ mật thiết với các dân tộc bán du mục của miền Trans-Jordan, Syria, vịnh Euphrates và Bắc Arabia trong các thế kỷ sau cùng của thiên niên kỷ thứ hai trước công nguyên và các thế kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ thứ nhất (3).
1. Vương Quốc Ebla
Một trong những khám phá khảo cổ có liên quan đến khoa phê bình Thánh Kinh là việc tìm ra các thanh bản Ebla ( Ebla tablets) tại miền bắc Syria do hai giáo sư của Đại học La-Mã là Tiến sĩ Paolo Matthiae, một nhà khảo cổ học, và Tiến sĩ Giovanni Petinato, một nhà minh văn học (epigrapher). Hai vị giáo sư này khởi sự cuộc khai quật tại Tell Mardikh vào năm 1964. Đến năm 1968, họ khai quật được bức tượng của Vua Ibbit-Lim. Chữ khắc trên bức tượng có nhắc đến Ishtar, vị nữ thần ”sáng láng tại
Kể từ năm 1974, 17,000 thanh bản thuộc triều đại vương quốc
Giả thuyết trên còn cho rằng không những thời Mô-sê chưa có chữ viết, mà Bộ Luật Tư Tế (Priestly Code) và các luật lệ nói chung được ghi lại trong Ngũ Kinh, vì tính cách phát triển cao độ, nên không thể do Mô-sê trước tác được. Lúc ấy dân Do-thái còn rất bán khai không thể nào có những luật lệ như thế. Chúng chỉ có thể được ghi chép bằng văn tự vào khoảng nửa đầu thời kỳ Ba-tư (538-331 B.C.). Ấy thế nhưng, các thanh bản
Một đóng góp giá trị khác có liên quan đến Sáng Thế 14, một đoạn, trong nhiều năm, bị coi là sai lầm về phương diện lịch sử. Chiến thắng của Abraham đối với các vua Chedolaomer và Mesopotamia thường bị coi là huyễn hoặc và năm thành phố của Miền Đồng Bằng là Sodom, Gomorrah, Admah, Zeboiim và Zoar chỉ là tưởng tượng. Thế nhưng, các thanh bản
2. Cựu Ước và Khảo Cổ Học
Theo Sáng Thế, tổ tông người Do-thái phát xuất từ Lưỡng Hà (
Trong gia phả Esau, có nhắc đến sắc dân Horites (St 36:20). Có thời, người ta cho rằng họ là những người “ở hang” (cave-dwellers) vì có sự tương tự giữa chữ Horite và chữ Hy-bá-lai chỉ về hang. Tuy nhiên, ngày nay các khám phá khảo cổ cho thấy họ là sắc dân dũng sĩ sống tại Cận Đông thời các tổ phụ (16).
Trong các cuộc khai quật tại Jericho (1930-1936), Garstang đã tìm ra được một điều đầy ngạc nhiên đến độ ông đã cùng hai thành viên của nhóm soạn và ký tên một bản tuyên bố, trong đó có đoạn như sau: “Như thế xét theo sự kiện chính, thì không còn hoài nghi chi nữa: các bức tường đã đổ hoàn toàn ra phía ngoài đến độ những người tấn công có thể leo lên trên các đổ nát mà vào thành”. Vậy có chi là ngạc nhiên? Vì cứ sự thường thì các bức tường thành phố không đổ ra phía ngoài, mà đổ vào phía trong. Thế nhưng trong Giôsuê 6:20, ta đọc thấy: ”... tường thành sụp đổ bình địa, làm người ta cứ thẳng trước mặt mà tiến lên đánh thành, và đã chiếm được thành”. Như thế tường quả đã đổ ra phía ngoài (17).
Ngày nay ta đã thấy gia phả Abraham dứt khóat có tính chất lịch sử. Tuy nhiên, xem ra còn có vấn nạn liệu những tên kia là tên người hay tên các thành phố cổ. Điều chắc chắn duy nhất là Abraham quả là một cá nhân và là một nhân vật có thực. Theo Burrows, tuy chưa có bằng chứng khảo cổ về chính cá nhân Abraham, nhưng tên Abraham đã xuất hiện tại
Mặc dù chứng cớ khảo cổ đặc thù chưa tìm ra cho những tường thuật về các Tổ phụ, nhưng các phong tục xã hội trong các tường thuật ấy rất phù hợp với thời đại và vùng các Tổ phụ sinh sống (12/278,279). Phần lớn những điều này là kết quả của những khai quật tại Nuzu và Mari. Thi văn và ngôn ngữ Hy-bá-lai được các khai quật tại
Ta biết rằng Julius Wellhausen, một học giả về Thánh Kinh của thế kỷ 19, cho rằng Nhà Tạm (Tabernacle) với những chiếc gương thau (brass mirrors) không thể nào có vào thời Mô-sê được mà chỉ có thể có khoảng thế kỷ thứ 6 hay thứ 5 trước công nguyên. Nhưng ngày nay, ta đã có chứng cớ khảo cổ cho thấy những chiếc gương như thế đã có ngay từ thời Đế Quốc Ai-cập nghĩa là trong khoảng các năm 1500-1400 trước công nguyên, trùng với thời Mô-sê và Xuất Hành (16).
Tóm lại, như Henry M. Morris đã nhận xét, hiện còn khá nhiều công việc phải làm để điều hợp các dữ kiện khảo cổ sao cho khít khao với Thánh Kinh. Tuy nhiên, hiện chưa có một khám phá khảo cổ nào đi ngược lại bất cứ điều khoản căn bản nào của Thánh Kinh (32).
3. Tân Ước và Khảo Cổ
Không ai còn hoài nghi tư cách sử gia của Thánh Luca nữa. Unger cho ta hay khảo cổ học đã nhận thực các tường thuật của Phúc âm, nhất là Phúc âm Lu-ca (37). Có người cho rằng thánh nhân phạm nhiều sai lầm chung quanh biến cố giáng sinh của đức Giêsu (Lc 2:1-3), như làm gì có việc kiểm ta dân số, Quirinus đâu có làm tổng trấn
Trước đây các nhà khảo cổ cho rằng thánh Lu-ca sai lầm ở chỗ cho Lystra và Derbe thuộc vùng Lycaonia, còn Iconium thì không thuộc vùng đó (Cv 14:6). Họ dựa vào các nhà văn La-Mã, như
Thánh Luca có nhắc đến Lysanias, Tiểu vương tại Abilene (Lc 3:1), lúc Gioan Tẩy Giả khởi sự làm phép rửa khoảng năm 27 công nguyên. Điều ấy có vẻ không đúng vì ông Lysanias duy nhất được các sử gia cổ nhắc đến đã bị giết năm 36 trước công nguyên rồi. Tuy nhiên, mới đây, người ta tìm thấy một bản khắc gần Damascus nhắc đến “Người được Tiểu Vương Lysanias giải phóng”, và bản khắc này được định tuổi khoảng các năm 14 và 29 công nguyên (9).
Trong thư gửi tín hữu Rô-ma viết từ Côrintô, thánh Phaolô có nhắc đến viên quản lý kho bạc của thành phố là Erastus (Rm 16:23). Trong một cuộc khai quật tại Côrintô năm 1929, người ta tìm thấy một viên gạch lót đường với hàng chữ như sau: ERASTVS PRO: AED:S:P:STRAVIT có nghĩa là Erastus, người trông coi các công thự, đã lót những viên gạch này bằng tiền riêng của mình. Theo Bruce, việc lát đường trên có lẽ đã xẩy ra ở thế kỷ thứ nhất công nguyên và mạnh thường quân của công trình này cũng chính là viên quản lý kho bạc được Thánh Phaolô nhắc đến (11 & 36).
Tại Côrintô, người ta cũng tìm thấy một bảng khắc ghi hàng chữ “Nguyện đường Do-Thái”, có người cho là đã dựng trên cửa ra vào hội đường nơi Thánh Phaolô tranh biện (Cv 18:4-7). Và một bảng khắc khác nói đến “chợ thịt” của thành phố mà Thánh Phaolô có nhắc đến trong thư I Cor 10:25. Như thế, nhờ các khám phá của khảo cổ học, phần lớn những thành phố được Tông đồ Công vụ nhắc đến đã được nhận dạng. Các cuộc hành trình của thánh Phalô nhờ thế cũng được vẽ lại cách chính xác (11& 5).
Thánh Luca nhắc đến cuộc rối loạn ở Êphêsô và kể lại một cuộc tập họp dân sự (ecclesia) diễn ra trong một rạp hát (Cv 19: 23...). Sự thực đúng như thế vì có một bảng khắc nhắc đến các bức tượng bằng bạc của thần Artemis (bản KJV gọi là Diana) được đặt trong một “rạp hát trong một buổi họp toàn bộ của Ecclesia”. Khi khai quật, người ta thấy rạp hát này có sức chứa đến 25,000 người (9).
Thánh Luca cũng kể lại cuộc rối loạn xẩy ra tại Giêrusalem vì thánh Phaolô đã đem một người ngoại giáo vào Đền Thánh (Cv 21:28). Một bảng khắc mới tìm thấy ghi như sau bằng tiếng Hy-lạp và La-tinh: “Không một ngoại nhân nào được phép bước vào phạm vi ngăn cách chung quanh đền thánh và nơi cấm. Bất cứ ai bị bắt vi phạm điều này đích thân phải chịu trách nhiệm về án tử do đó mà ra”. Như thế thánh Luca quả có lý (9).
Có người tỏ ra hoài nghi vì một số từ ngữ do thánh Luca sử dụng. Thí dụ ngài gọi Philippi là một “quận” (district) của
Theo Josh McDowell, Evidence That Demands a Verdict, Revised Edition, Here’s Life Publishers, 1976.
Thư Mục:
1. Albright, William F. Archaeology and the Religions of
2. Albright, William F. The Archaelology of
3. Albright, William F. The Biblical Period From Abraham to Ezra.
4. Albright, William F. From the Stone Age to Christianity.
5. Albright, William F. Recent Discoveries in Bible Lands.
6. Anderson, J. The Bible, the Word of God.
7. Archer, Gleason. A Survey of the Old Testament.
8. Blaiklock, Edward Musgrave. The Acts of the Apostles.
9. Bruce, F.F. “Archaeological Confirmation of the New Testament” Revelation and the Bible. Edited by Carl Henry.
11. Bruce, F.F. The New Testaments Documents: Are They Reliable?
12. Burrows, Millar. What Means These Stones?
13. Davidson, Samuel. Hebrew Text of the Old Testement. 2nd ed.,
14. Earle, Ralph. How We Got Our Bible.
15. Elder, John. Prophets, Idols and Diggers.
16. Free, Joseph. Archaeology and Bible History.
17. Garstang, John. The Foundations of Bible History; Joshua, Judges.
18. Geisler, Norman L. và William E. Nix. A General Introduction to the Bible.
19. Glueck, Nelson. Rivers in the Desert; History of
20. Greenlee, J. Harold. Introduction to New Testament Textual Criticism.
21. Horn, Robert M. The Book That Speaks for Itself.
22. Jaganay, Leo. An Introduction to the Textual Criticism of the New Testament. Trans. by B.V. Miller.
23. Josephus, Flavius. “Flavius Josephus Against Apion” Josephus, Complete Works. Trans. by William Whiston,
25. Kenyon, Frederic G. The Bible and Modern Scholarship.
26. Kenyon, Frederick G. Handbook to the Textual Criticism of the New Testament.
27. Kenyon, Frederic G. Our Bible and the Ancient Manuscripts.
28. Leach, Charles. Our Bible. How We Got It?
29. Metzger, Bruce. Chapters in the History of New Testamnet Textual Criticism.
30. Metzger, Bruce M. The Text of the New Testament.
31. Montgomery, John W. History and Christianity.
32. Morris, Henry. The Bible and the Modern Science. Rev. ed.
33. Peters, S.E.The Harvest of Hellenism.
34. Sanders, C. Introduction in Research in English Literary History.
35. Schaff, Philip. Companion to the Greek Testament and the Enfglish Version. Rev. ed.
36. Vos, Howard. Can I Trust My Bible? Chicago, Moody Press, 1963.
37. Unger, MerrillF. Archaeology and the New Testament. (Dùng kèm với Archaeology and the Old Testament.)
38. Unger, Merrill F. Archaeology and the Old Testament.
39. Benjamin Warfield, Introduction to Textual Criticism of the New Testtament. Ấn bản 7,
40. Wilson, Robert Dick. A scientific Investigation of the Old Testament.Chicago: Moody Press, 1959.
41. Wiseman, Donald F. “Archaeological Confirmation of the New Testament” Revelation and the Bible. Edited by Carl Henry.
Vũ Văn An
VietCatholic News (Thứ Năm 23/10/2008)
- Tính đáng tin cậy của Thánh Kinh (3) (23/10/2008)
- Tính đáng tin cậy của Thánh Kinh (2) (22/10/2008)
- Tính đáng tin cậy của Thánh Kinh (1) (21/10/2008)
- Các Tháng Do-Thái (02/12/2006)

Bản in